vat lieu loc nuoc

vat lieu loc nuoc gia re toan phat

CÔNG NGHỆ SBRV USA

1.1. Giới thiệu chung
Công nghệ SBRV sẽ giúp cho việc chạy của toàn bộ thiết bị đơn giản hơn nhiều và giảm giá thành đầu tư cũng như vận hành quá trình.
Lợi ích của hệ thống SBRV lớn hơn rất nhiều so với công nghệ SBR và công nghệ sinh học truyền thống sẽ được chỉ ra trong phần so sánh dưới dây.
Về kích thước các bể trong các hạng mục xử lý thì công nghệ SBRV cũng tương tự phương pháp lọc nước thải truyền thống. Thế nhưng số lượng bể cho 1 dây chuyền xử lý là rất ít (SBRV không dùng bể lắng sơ cấp và thứ cấp ), Khác biệt tương đối ổn về chi phí đầu tư nằm ở phần hệ thống vận dụng.
kỳ diệu vận hành của SBRV được khẳng định bằng rất nhiều công trình đã và đang hoạt động hiệu quả tại Việt Nam và trên toàn Thế Giới.

1.2. Mô tả công nghệ tìm phương pháp xử lý sinh học
Trong một chu trình tìm phương pháp xử lý gồm các quá trình:
- Cấp khí, nước thải vào để thực hiện oxi hóa sinh học (Fill aeration-aeration (F/A))
- Lắng và làm trong nước (Settlement - S)
- xử lý nước cấp trong ra (Decanting – D)
Quá trình lọc được diễn ra theo từng mẻ lặp đi lặp lại. Trong suốt thời gian xử lý sinh học của một mẻ lượng nước trong bể được cấp vào và tăng dần lên từ mức nước vận hành thấp nhất. Quá trình sục khí và khuấy trộn diễn ra liên tục, vi khuẩn hoạt động mạnh mất đi hữu cơ và tạo ra bông sinh học. Sau đó ngừng cấp khí và nước thải để thực hiện quá trình lắng bông sinh học xuống đáy bể và hút bùn sinh học. Kế tiếp là lọc gạn nước trong ra ngoài bằng thiết bị thiết bị lọc DECANTER có khả năng di chuyển lên xuống theo chiều cao của mực nước. Tới khi mực nước trong bể giảm xuống tới mức thấp nhất thì Quá trình xử lý dừng lại và chu kỳ kết thúc. Quá trình cấp nước cho chu kỳ Tiếp theo được bắt đầu tiến hành.
Điều khiển tốc độ quá trình bằng việc vận dụng các thiết bị đo liều lượng oxi hòa tan (DO online) kết hợp với thiết bị đo lường tỷ lệ hô hấp oxi của sinh vật cho toàn bộ quá trình.
Bằng cách này, quá trình trao đổi chất của của sinh khối được tính toán đo đạc thực tế để kiểm soát quá trình.
Nhờ có phương pháp kiểm soát quá trình xịn trên nên thiết bị Tiết kiệm được it nhất 15% năng lượng trong khi chạy vì lượng oxi sử dụng là nhỏ hơn 1mg/l (trong khi các công nghệ khác ít nhất là 2mg/l)
1.3 Điểm mạnh của ngăn sinh hoc selector
Việc kết hợp giữa ngăn Selector với bể phản ứng sinh học tạo ra một sự khác biệt lớn so với các công nghệ SBR trước đó.
Nhờ vậy quá trình Fill-AERATE thay thế quá trình FILL & FILL-ANOXIC-MIX trong từng mẻ nên thiết bị đơn giản hơn rất nhiều, đảm bảo bùn sinh học hiệu quả hơn nhiều đồng thời giảm giá thành đầu tư xây dựng
Ngăn selectror được thiết kế đặc trưng có thể tự đảo trộn dòng nước, tránh việc lắng đọng cục bộ, đồng thời duy trì hàm lượng bùn ở mức độ cực lớn, tạo điều kiện hết sức thuận lợi để bẻ gẫy các liên kết hữu cơ khó phân hủy (thường ở dạng mạch dài hoặc mạch tròn), tạo thành các mạch ngắn dễ dàng mất đi. Đồng thời tại đây duy trì môi trường thiếu khí/yếm khí, tạo điều kiện cho quá trình mất đi Nito và phốt pho diễn ra mãnh liệt. Đồng thời, việc tuần hoàn và duy trì lưu lượng bùn rất lớn tại ngăn Selector sẽ tránh hiện tượng trương nở bùn / tăng trưởng của vi sinh vật dạng sợi, do đó tốc độ lắng của bông bùn cao nhất, vì vậy thời gian lắng của công nghệ SBRV chỉ bằng ½ so với các công nghệ khác. Điều này tương đương với việc Tiết kiệm được diện tích bể ở mức độ nhỏ nhất.
1.4. Hoạt động đơn giản
Toàn bộ thiết bị bể SBRV được điều khiển tự động hóa hoàn toàn bởi hệ thống điều khiển PLC và các van điều khiển tự động. Dựa trên những thông số thí nghiệm chạy của từng nhà máy chúng tôi sẽ lập trình, cài đặt phần mềm cho riêng trạm cấp nước đó. Việc lập trình riêng phần mềm cho từng trạm cấp nước theo thực nghiệm là yếu tố cần thiết để giảm chi phí sử dụng thiết bị và chất lượng tốt nước sau xử lý. Khoảng thời gian của các quá trình trong chu kỳ hoạt động, chế độ chuyển bước, hoạt động của decanter, chế độ bơm bùn, cấp khí, đóng mở các van ... Đều được điều khiển tự động bởi hệ thống PLC.
1.5. Hoạt động khi chưa đủ công suất hay khi quá tải công suất
Công nghệ hoạt động ổn định và hiệu quả ngay cả khi công suất trạm cấp nước chỉ đạt 10% hay cả khi công suất nhà cung cấp vượt quá 30%. Chi phí sử dụng nhà cung cấp ở mức rất thấp so với các công nghệ khác khi hoạt động ở trạng thái không đủ công suất hay quá tải về công suất và tải lượng suy thoái.
Trường hợp 1: nhà máy hoạt động khi chưa đủ công suất.
Mực nước trong bể sinh học duy trì ở mức thấp: thiết bị bể sinh học theo mẻ SBRV của HaNoiTC vận dụng hệ thống Decant tách và thu nước sau xử lý nên dễ dành điều khiển mức nước, thể tích bể sinh học theo hàm lượng đầu vào.
Khi lưu lượng đầu vào thấp thì dung tích bể sinh học cũng ở mức thấp, khi lưu lượng tăng lên 25%, 50%, 75%, 100% thì hệ thống Decant nâng lên theo các mức giống như và dung tích xử lý trong bể sinh học tăng theo
Điện năng tiêu thụ rất ít: thiết bị cấp khí cho bể sinh học cũng hoạt động với công suất thấp khi hàm lượng đầu vào ngăn ngừa. Việc vận dụng máy biến tần điều khiển các máy thổi khí thông qua thiết bị SCADA giúp điều khiển máy thổi khí hoạt động theo nhu cầu cung ứng Oxi của bể sinh học. Khi lưu lượng vào thấp, lượng Oxi nhu cầu cung ứng cũng thấp, máy thổi khí hoạt động với tần số thấp và giảm đáng kể chi phí điện năng; Các hệ thống khác như bơm bùn hồi lưu, bơm bùn thải, hệ thống tìm phương pháp xử lý bùn cũng hoạt động ít hơn góp phần giảm điện năng, hóa chất tiêu thụ cho nhà cung cấp.
Trường hợp 2: nhà máy hoạt động khi vượt công suất
Mực nước trong bể sinh học duy trì ở mức cao: hệ thống bể sinh học theo mẻ SBRV của HaNoiTC áp dụng hệ thống Decant tách và thu nước sau xử lý nên dễ dành điều khiển mức nước, thể tích bể sinh học theo lưu lượng đầu vào. Khi lưu lượng đầu vào cao thì dung tích bể sinh học cũng ở mức cao khi hàm lượng tăng lên 10% - 20% - 30% thì hệ thống Decant nâng lên theo các mức tương tự và dung tích tìm phương pháp xử lý trong bể sinh học tăng theo
Điện năng tiêu thụ tăng không đáng kể: Việc kết hợp quá trình trộn Selector và lắng vào cùng 1 thiết bị SBRV giúp dung tích bể xử lý sinh học tăng lên đáng kể điều này giúp hệ thống SBRV có thể nâng công suất tìm phương pháp xử lý lên 30% mà gần như không cần điều chỉnh gì. Quá trình lọc sinh học trong bể được theo dõi liên tục và lập biểu đồ thích ứng xịn nhất với từng thời điểm qua đó điều chỉnh lượng Oxi tối ưu cho Quá trình xử lý.
Việc tăng hàm lượng bùn hoạt tính trong bể SBRV cũng cực kỳ đơn giản bằng việc giảm lượng bùn thải giúp cho xác suất xử lý ô nhiễm tăng mà không cần cung cấp thêm lượng Oxi lớn như các công nghệ khác.

Bạn đã xem chưa

0 nhận xét | Viết lời bình